Tăng cơ hội đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học
Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học triển khai ở quy mô lớn cần có thêm giải pháp công nghệ. Đây là một trong những nội dung đặt ra tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tổ chức ngày 8 – 9.10 tại Hà Nội.
Chìa khóa giải pháp công nghệ
Phát biểu tại hội nghị, TS Christopher McCormick, chuyên gia cao cấp chiến lược học thuật, Efekta (Vương quốc Anh) đề cập việc trí tuệ nhân tạo (AI) đang thúc đẩy năng lực sử dụng tiếng Anh trong giáo dục phổ thông. Theo ông, với mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học của VN thì thách thức cốt lõi là một chương trình giảng dạy đơn thuần không thể thu hẹp khoảng cách theo đúng tiến độ; việc triển khai quy mô lớn đòi hỏi phải có một giải pháp công nghệ.
Giáo viên Trường tiểu học Đặng Trần Côn (P.Vĩnh Hội, TP.HCM) tham gia lớp học nâng cao kỹ năng giao tiếp tiếng Anh với giáo viên nước ngoài
ẢNH: BẢO CHÂU
TS McCormick phân tích mức độ thành thạo tiếng Anh phụ thuộc các kỹ năng bộc lộ (nói và viết) vốn đòi hỏi phải luyện tập cá nhân đi kèm với sự phản hồi (góp ý) riêng cho từng học sinh (HS). Tuy nhiên, trong một lớp học 40 HS với một giáo viên (GV) và thời lượng 45 phút, về mặt thống kê, mỗi em chỉ được luyện nói chưa đầy 1 phút mỗi tiết học.
“Đây không phải là vấn đề về nguồn lực, bổ sung ngân sách có thể giải quyết được mà là sự bất khả thi về mặt cấu trúc, đòi hỏi cách tiếp cận hoàn toàn khác”, chuyên gia này nói.
Theo ông, học tiếng Anh thông qua ứng dụng AI được thiết kế dành riêng cho các hệ thống giáo dục quốc gia mang lại nhiều lợi ích như: luyện tập cá nhân hóa, mỗi HS luyện tập ở trình độ riêng về cả kỹ năng nói và viết, diễn ra đồng thời ngay trong cùng một lớp học. Phát âm, ngữ pháp và độ lưu loát được đánh giá ngay tại thời điểm nói, không phải chờ sau giờ học hay qua bài kiểm tra.
Chương trình giảng dạy chuẩn hóa Khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung châu Âu (CEFR) được xây dựng theo các chuẩn năng lực quốc tế, mang lại kết quả có thể đo lường và so sánh được cho cả người học và nhà quản lý.
Ngoài ra, công nghệ còn giúp minh bạch hóa tiến trình: HS, GV và nhà quản lý có thể quan sát tiến trình học tập theo thời gian thực ở mọi cấp độ (theo dõi phạm vi từ vựng, tốc độ nói, độ lưu loát và độ phức tạp của câu).
AI còn đóng vai trò trợ lý chuyên môn cho mỗi GV, giúp đảm nhận việc luyện tập lặp đi lặp lại với khối lượng lớn, giúp GV tập trung vào tính sáng tạo, động lực và các khía cạnh kết nối con người trong học tập; làm nổi bật các mô hình học tập và khoảng trống kiến thức, giúp GV ngày càng hiểu rõ hơn về HS của mình theo thời gian…
Bên cạnh đó, TS Christopher McCormick cũng nhấn mạnh: “Công nghệ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Thành công trên quy mô quốc gia phụ thuộc vào sự phối hợp liên minh xung quanh công nghệ đó. Trong đó, Chính phủ cần cam kết công khai, định hướng chương trình giảng dạy, ban hành khung pháp lý và tầm nhìn chính sách dài hạn.
Ngành giáo dục cần đặt vai trò chủ động của GV ở vị trí trung tâm, cung cấp các công cụ phát triển chuyên môn bổ trợ cho giảng dạy. Cần có khung tham chiếu toàn cầu, chia sẻ tri thức và kiểm định độc lập nhằm xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống giáo dục hỗ trợ bởi AI…”.
Giáo viên: “Nút thắt” mang tính quyết định
TP.HCM được xem là nơi có nhiều kinh nghiệm triển khai các chương trình giảng dạy tiếng Anh khi vào năm 1998 đã lần đầu tiên thực hiện tăng cường tiếng Anh từ lớp 1. Đây được coi là nền tảng thuận lợi để thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Tuy nhiên, theo các nhà giáo dục, điểm nghẽn lớn nhất là về GV, nhất là với các môn học khác tiếng Anh.
Học sinh tiểu học TP.HCM trong giờ học tiếng Anh, toán, khoa học thực nghiệm
ẢNH: THÚY HẰNG
Cuối tháng 7 vừa qua, đoàn khảo sát Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có buổi làm việc với UBND TP.HCM về việc triển khai chủ trương từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2045 và các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội về đột phá phát triển GD-ĐT.
Tại đây, đoàn khảo sát nhìn nhận đội ngũ GV là “nút thắt” mang tính quyết định với quá trình triển khai chủ trương này, kể cả ở địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi như TP.HCM.
Hiện cả nước còn thiếu khoảng 2.200 GV tiếng Anh và thiếu tới hơn 200.000 GV có thể giảng dạy các môn học khác bằng tiếng Anh. TP.HCM cũng không nằm ngoài thực trạng đó.
Trong báo cáo kết quả triển khai thực hiện Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, TP cho biết đã khảo sát năng lực tiếng Anh với 45.796 GV để làm cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí nhân sự.
Theo TP.HCM, khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu triển khai đề án, đặc biệt là đội ngũ GV có khả năng giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh chưa đáp ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng; còn thiếu ở một số cấp học, địa bàn.
Năng lực tiếng Anh của cán bộ quản lý, GV không chuyên ngữ nhìn chung còn hạn chế. Ngoài ra, chưa có đầy đủ hệ thống văn bản hướng dẫn triển khai đề án, bộ tiêu chí đánh giá cơ sở giáo dục, chuẩn đội ngũ thống nhất trên cả nước…
Hiện TP đang xem xét, phê duyệt đề án định hướng thí điểm theo phân khu, các địa bàn đô thị thuận lợi đi đầu với mô hình dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh và tích hợp chương trình quốc tế. Các xã đảo, khu vực còn khó khăn (đặc khu Côn Đảo, xã đảo Thạnh An) được bố trí lộ trình phù hợp.
Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, phòng học ngoại ngữ, hạ tầng công nghệ, học liệu số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, AI; tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực xã hội hóa.
Các giáo viên tham gia hội nghị quốc tế về giảng dạy tiếng Anh VietTESOL. Giáo viên là nhân tố quyết định thực hiện đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
ẢNH: NGỌC LONG
Câu lạc bộ, lớp học nâng cao dành cho GV
Góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ và xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học, Trường tiểu học Nguyễn Thái Học (P.Bến Thành, TP.HCM) triển khai Câu lạc bộ giao tiếp tiếng Anh dành cho cán bộ, GV .
Câu lạc bộ được tổ chức sau giờ học với thời lượng 2 buổi/tuần do GV người nước ngoài phụ trách. Thông qua các buổi học, GV được học tập, thực hành và trau dồi kỹ năng giao tiếp, phát âm tiếng Anh từ đó nâng cao sự tự tin và hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh thường xuyên trong giao tiếp, dạy học.
Bà Trần Bé Hồng Hạnh, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc tổ chức câu lạc bộ giao tiếp tiếng Anh cho GV được xem là bước đệm thiết thực, góp phần lan tỏa tinh thần tự học, đổi mới, hội nhập và từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường.
Cũng xuất phát từ thực tế một số GV còn rụt rè, ngại giao tiếp khi trường đón các đoàn chuyên gia, GV nước ngoài đến giao lưu, bà Phạm Thúy Hà, Hiệu trưởng Trường tiểu học Đặng Trần Côn (P.Vĩnh Hội), đã tổ chức lớp học nâng cao kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cho GV do chính tổ bộ môn tiếng Anh của trường tổ chức.
Ngoài lực lượng tại chỗ, trường còn vận động các GV nước ngoài cùng tham gia lớp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp cho GV.
Không gian lớp học được mở rộng ra vườn rau, sân trường… Các hoạt động giao tiếp không chỉ xoay quanh cách phát âm, bổ sung từ vựng, dạng câu mà còn kết hợp nhiều nội dung trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm dạy học…
Ban giám hiệu Trường tiểu học – THCS Phan Văn Trị (P.Cầu Ông Lãnh, TP.HCM) cũng chủ động xây dựng môi trường tiếng Anh theo cách tự nhiên nhất.
Ông Lê Hồng Thái, Hiệu trưởng, cho biết bên cạnh việc tổ chức các lớp học cho GV, nhà trường luôn khuyến khích GV tổ chức và HS tham gia các hoạt động có môi trường song ngữ. Ngay các bản tin, thông báo trên Fanpage của nhà trường cũng được biên soạn theo hình thức song ngữ để tạo thói quen, động lực học tập cho GV và HS.
Đưa tiếng Anh vào môi trường học tập hằng ngày
Để đưa tiếng Anh đến gần hơn với học sinh, nhà trường cần tạo ra môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên thay vì chỉ giới hạn trong các tiết học trên lớp. Những hoạt động như thuyết trình ngắn, làm việc nhóm, câu lạc bộ ngoại ngữ hay giao tiếp theo tình huống thực tế có thể giúp học sinh từng bước hình thành sự tự tin khi sử dụng tiếng Anh.
AI hỗ trợ quá trình đưa tiếng Anh vào trường học
Trong quá trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, AI có thể đóng vai trò hỗ trợ luyện tập ngoài giờ học. Học sinh có thể thực hành hội thoại, kiểm tra từ vựng và nhận phản hồi về cách diễn đạt. Tuy nhiên, công cụ cần được lựa chọn phù hợp với độ tuổi, trình độ và chương trình học; giáo viên vẫn giữ vai trò định hướng và kiểm tra chất lượng kiến thức.
Bên cạnh việc ứng dụng AI, đổi mới phương pháp giảng dạy cũng đóng vai trò quan trọng. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết 248 giáo viên được trao giải thiết kế bài giảng điện tử tiếng Anh để tìm hiểu thêm về việc ứng dụng công nghệ trong dạy và học ngoại ngữ.
Cần chuẩn bị đồng bộ để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai
Muốn đưa tiếng Anh vào nhiều hoạt động giáo dục một cách hiệu quả, các trường cần chú trọng đào tạo giáo viên, xây dựng học liệu phù hợp và bảo đảm điều kiện học tập giữa các địa phương. Công nghệ có thể hỗ trợ quá trình này, nhưng hiệu quả lâu dài phụ thuộc vào cách triển khai thực tế, cơ hội thực hành của học sinh và chất lượng giảng dạy.
Lộ trình TP.HCM đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai
– Giai đoạn 2026 – 2030: Tập trung xây dựng nền tảng, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thực hiện đề án tại 100% cơ sở giáo dục; ưu tiên phát triển năng lực tiếng Anh cho đội ngũ, phấn đấu có từ 30 – 40% cán bộ quản lý, GV, nhân viên tham gia các chương trình bồi dưỡng năng lực tiếng Anh; 40% cơ sở giáo dục triển khai bồi dưỡng phương pháp dạy học các môn bằng tiếng Anh; 40% cơ sở giáo dục xây dựng được môi trường sử dụng tiếng Anh và 20% cơ sở giáo dục tổ chức giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh.
– Giai đoạn 2031 – 2035: Tập trung huy động tổng thể các nguồn lực để đẩy mạnh triển khai đề án trên diện rộng; phấn đấu 100% cán bộ quản lý, GV và nhân viên đạt chuẩn năng lực tiếng Anh theo kế hoạch; 100% cơ sở giáo dục hoàn thành bồi dưỡng đội ngũ giảng dạy bằng tiếng Anh; 50% cơ sở giáo dục triển khai chương trình dạy học bằng tiếng Anh theo kế hoạch đặc thù của đơn vị và ít nhất 50% cơ sở giáo dục thực hiện chương trình tiếng Anh tích hợp theo Đề án 5695 của TP.
– Giai đoạn 2036 – 2045: Tập trung duy trì, nâng cao chất lượng; hiện đại hóa môi trường giáo dục, tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ, phát triển chương trình dạy học và các hoạt động giáo dục bằng tiếng Anh, mở rộng hợp tác quốc tế; phấn đấu đến năm 2045 có từ 60 – 70% cơ sở giáo dục triển khai chương trình tiếng Anh tích hợp.
Tạo môi trường thực hành để đưa tiếng Anh vào đời sống học đường
Muốn đưa tiếng Anh vào đời sống học đường, nhà trường cần tạo cơ hội để học sinh sử dụng ngoại ngữ trong những tình huống gần gũi. Các hoạt động giao tiếp, thảo luận nhóm và thuyết trình ngắn có thể giúp các em tăng sự tự tin. Đây cũng là cách đưa tiếng Anh ra khỏi phạm vi bài tập trên giấy, giúp người học nhận thấy giá trị thực tế của ngôn ngữ.
Bên cạnh giờ học chính khóa, việc đưa tiếng Anh vào câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa và các dự án học tập có thể mở rộng thời gian thực hành. Khi được tiếp xúc thường xuyên, học sinh có thêm cơ hội vận dụng kiến thức và nhận ra những điểm cần cải thiện. Tuy nhiên, hoạt động cần phù hợp với trình độ để đưa tiếng Anh đến gần hơn với nhiều nhóm học sinh.
Vai trò của giáo viên trong quá trình đưa tiếng Anh vào trường học
Công nghệ có thể hỗ trợ luyện tập, nhưng giáo viên vẫn là người định hướng quá trình học. Để đưa tiếng Anh vào các hoạt động giáo dục hiệu quả, giáo viên cần được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, năng lực ngoại ngữ và cách sử dụng công cụ số. Sự chuẩn bị này giúp đưa tiếng Anh vào lớp học theo cách có mục tiêu, thay vì chỉ tăng số lượng hoạt động bằng ngoại ngữ.
Ngoài ra, nhà trường cần lựa chọn học liệu phù hợp với chương trình và năng lực học sinh. Việc đưa tiếng Anh vào một môn học khác đòi hỏi giáo viên phải bảo đảm học sinh hiểu được kiến thức cốt lõi của môn học. Nếu triển khai quá nhanh, mục tiêu đưa tiếng Anh vào giảng dạy có thể tạo thêm áp lực cho cả người dạy lẫn người học.
Ứng dụng AI để hỗ trợ đưa tiếng Anh đến gần học sinh
AI có thể giúp học sinh luyện hội thoại, kiểm tra từ vựng và nhận phản hồi về cách diễn đạt. Khi được sử dụng đúng cách, công nghệ góp phần đưa tiếng Anh đến gần hơn với những em ít có cơ hội giao tiếp ngoài lớp học. Các bài luyện tập có thể được điều chỉnh theo nhu cầu, qua đó hỗ trợ đưa tiếng Anh vào thói quen học tập hằng ngày.
Dù vậy, nhà trường cần hướng dẫn học sinh sử dụng AI có trách nhiệm, kiểm tra thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Công cụ số nên giúp đưa tiếng Anh vào quá trình thực hành chứ không thay thế việc tư duy độc lập. Giáo viên cũng cần đánh giá tiến bộ bằng nhiều hình thức để việc đưa tiếng Anh vào môi trường số thực sự mang lại giá trị.
Bảo đảm cơ hội công bằng khi đưa tiếng Anh vào giáo dục
Điều kiện học tập giữa các trường và địa phương có thể khác nhau về thiết bị, đường truyền internet và đội ngũ giáo viên. Vì vậy, kế hoạch đưa tiếng Anh vào trường học cần tính đến nguồn lực thực tế, tránh để học sinh ở khu vực khó khăn bị hạn chế cơ hội tiếp cận. Đầu tư học liệu và bồi dưỡng giáo viên sẽ giúp đưa tiếng Anh đến với nhiều đối tượng hơn.
Về lâu dài, kết quả không nên chỉ được đo bằng số tiết học hoặc số công cụ công nghệ được triển khai. Để đưa tiếng Anh trở thành một phần hữu ích của môi trường giáo dục, cần theo dõi khả năng giao tiếp, mức độ tiến bộ và sự tự tin của học sinh. Cách tiếp cận theo từng giai đoạn sẽ giúp đưa tiếng Anh vào trường học phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
Hướng đi lâu dài để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai
Mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai cần sự phối hợp giữa chính sách, nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh. Công nghệ có thể tạo thêm cơ hội luyện tập, nhưng chất lượng giảng dạy và môi trường sử dụng ngôn ngữ vẫn giữ vai trò quyết định. Khi có sự chuẩn bị đồng bộ, nỗ lực đưa tiếng Anh vào nhiều hoạt động học tập sẽ có cơ sở phát triển bền vững.
Tạo cơ hội để HỌC SINH sử dụng tiếng Anh thường xuyên
Bà Nguyễn Lê Tuyết Ngọc, Giám đốc khu vực châu Á, Cơ quan Khảo thí MTS (Anh), cho rằng cần có sự trao đổi và làm việc giữa nhà trường, phụ huynh, HS để làm rõ vai trò của tiếng Anh trong thời đại mới.
Đồng thời, các bên liên quan cần tạo cơ hội để HS sử dụng tiếng Anh thường xuyên qua các hoạt động mang tính kết nối và phù hợp với độ tuổi như câu lạc bộ ca hát, kịch nghệ hay thuyết trình, vui chơi, cắm trại, ngày hội… bằng tiếng Anh.
Bà Ngọc cũng gợi ý ngôn ngữ để kiểm tra có thể chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh, song chưa nên vội vàng áp dụng đại trà mà cần phân tích rõ bối cảnh VN cũng như đánh giá toàn diện định hướng tương lai.
Ví dụ ở Singapore, báo cáo của Cục Thống kê nước này chỉ ra có đến 48,3% dân cư từ 5 tuổi trở lên sử dụng tiếng Anh ngoài lớp học. Hay ở Brunei, tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy nhiều bộ môn, theo Bộ Giáo dục Brunei.
Đây đều là các quốc gia đã cho thi bằng tiếng Anh. Trong khi đó ở VN, tiếng Anh vẫn đang là một ngoại ngữ (EFL) chứ chưa là ngôn ngữ thứ hai (ESL).
Thạc sĩ Hoàng Tăng Đức, giảng viên Khoa Ngoại ngữ (Trường ĐH Vinh), kiêm nhà sáng lập Anh ngữ quốc tế Openland và hệ sinh thái Global Real English, cho rằng tiến tới tổ chức thi một số môn học bằng tiếng Anh là một hướng nghiên cứu khả dĩ nhưng “cần hết sức thận trọng khi vận dụng vào VN”.
Cả hai chuyên gia đều nhất trí rằng trước khi mở rộng việc kiểm tra, đánh giá các môn học bằng tiếng Anh, cần chuẩn bị đồng bộ về năng lực GV, chương trình và học liệu song ngữ, trình độ tiếng Anh của HS, chuẩn đánh giá và điều kiện triển khai giữa các nơi…, cũng như cần thí điểm và đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.
“Nếu áp dụng vội vàng, việc thi các môn bằng tiếng Anh sẽ vô tình trở thành đánh giá năng lực tiếng Anh thay vì kiểm tra kiến thức môn đó”, bà Nguyễn Lê Tuyết Ngọc khuyến cáo.
Ngọc Long









